# Hòn đảo bé như hạt bụi và cái giá của Manhattan: Chuyện gia vị từng đắt hơn một thành phố

**URL:** <https://diembao.net/t/hon-dao-be-nhu-hat-bui-va-cai-gia-cua-manhattan-chuyen-gia-vi-tung-dat-hon-mot-thanh-pho/1662>\
**Category:** Chuyện trò\
**Created:** [October 29, 2026, 5:57am UTC](https://diembao.net/t/hon-dao-be-nhu-hat-bui-va-cai-gia-cua-manhattan-chuyen-gia-vi-tung-dat-hon-mot-thanh-pho/1662 "2026-10-29T05:57:17Z")\
**Posts on this page:** 1\
**Page:** 1

<div class="post-metadata">

**Author:** ![tran\_tien](https://diembao.net/user_avatar/diembao.net/tran_tien/32/2850_2.png) [@tran\_tien](https://diembao.net/u/tran_tien)\
**Post date:** [October 29, 2026, 5:57am UTC](https://diembao.net/t/hon-dao-be-nhu-hat-bui-va-cai-gia-cua-manhattan-chuyen-gia-vi-tung-dat-hon-mot-thanh-pho/1662/1 "2026-10-29T05:57:17Z")

</div>

_Năm 1667, người Hà Lan ký một hiệp ước mà nếu đọc lại bằng con mắt hôm nay, ta chỉ muốn kéo họ lại mà hỏi: “Các ông có chắc không?” Họ buông tay khỏi hòn đảo sau này trở thành trái tim của New York, để giữ lấy một mẩu đất dài chưa tới ba cây số giữa biển Banda, nơi mọc một thứ quả nhỏ màu vàng nhạt. Nhưng nếu bạn sống ở thế kỷ 17, câu hỏi ngược lại mới là hợp lý: ai lại đi đổi vàng lấy bùn?_

 ![Ảnh chụp quả nhục đậu khấu mở, để lộ lớp áo hạt đỏ.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/a/af84d6f07368a5af2d3960a8ff425e6c787c7550.jpeg)  
_Ảnh chụp quả nhục đậu khấu mở, để lộ lớp áo hạt đỏ._

* * *

## Một hạt nhân nhỏ, một cơn sốt kéo dài ba trăm năm

Hãy bắt đầu từ thứ nằm ở tâm điểm của toàn bộ câu chuyện: hạt nhục đậu khấu.

Nếu bạn từng cầm một hạt nhục đậu khấu trên tay, bạn sẽ thấy nó chẳng có gì đáng để người ta giết nhau. Một hạt cứng, nâu sẫm, to bằng đầu ngón tay cái, mài ra có mùi ấm nồng, hơi ngọt, hơi cay. Hạt ấy nằm trong lớp áo đỏ rực gọi là _mace_, bọc trong một quả tròn tựa quả mơ, trên một cái cây phải bảy tám năm mới cho trái. Chỉ vậy thôi.

Nhưng châu Âu thời trung đại nhìn hạt này bằng con mắt khác hẳn. Nó là mùi thơm của những bữa tiệc quý tộc, là thứ để khoe khoang gia thế, là vị thuốc mà các thầy lang tin rằng chữa được từ đầy hơi cho tới bệnh dịch hạch. Vào thế kỷ 14, có ghi chép rằng nửa cân nhục đậu khấu đổi được bảy con bò đực béo. Người ta kể rằng một túi hạt nhỏ mang từ Đông Ấn về Amsterdam có thể mua được một căn nhà. Con số lời lãi được truyền tụng lên tới hàng chục nghìn phần trăm, nghĩa là mua một đồng ở nơi trồng, bán ra ở châu Âu được vài trăm đồng.

Vì sao đắt đến thế? Vì một lý do đơn giản mà tàn nhẫn: **trên toàn bộ hành tinh này, nhục đậu khấu chỉ mọc ở một nơi duy nhất.** Đó là quần đảo Banda, một chùm mười hòn đảo núi lửa nhỏ xíu nằm lẻ loi giữa biển Banda, phía đông Indonesia ngày nay. Suốt hàng thế kỷ, mọi hạt nhục đậu khấu trên bàn ăn vua chúa châu Âu đều xuất phát từ mấy hòn đảo mà trên bản đồ, người ta phải nheo mắt mới thấy.

 ![Ảnh chụp đảo Banda Besar nhìn từ pháo đài Belgica.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/b/b968d8c988a7a12ba4347e28f60dd45064a6c5bd.jpeg)  
_Ảnh chụp đảo Banda Besar nhìn từ pháo đài Belgica._

Trước khi người châu Âu tìm đến, hạt này đi qua tay thương nhân Mã Lai, Java, Ả Rập, rồi Venice. Mỗi bàn tay là một lần đội giá. Muốn phá vỡ chuỗi ấy, chỉ có một cách: tự đi tìm nguồn. Và thế là những chiếc thuyền buồm nhổ neo.

* * *

## Cuộc đua tới tận cùng thế giới

Người Bồ Đào Nha đến Banda đầu tiên, năm 1512, nhưng chưa bao giờ thật sự kiểm soát được nơi này. Người thay đổi số phận Banda là người Hà Lan. Năm 1602, các thương nhân Amsterdam lập ra **Công ty Đông Ấn Hà Lan** , gọi tắt là VOC: công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới, được phép đúc tiền, tuyển quân, xây pháo đài, ký hiệp ước, tuyên chiến. Một doanh nghiệp có hải quân riêng.

VOC nhìn Banda và thấy một phép tính: **nếu nhục đậu khấu chỉ mọc ở đây, thì ai nắm được Banda sẽ nắm toàn bộ nguồn cung của thế giới.** Không phải “phần lớn”, mà là toàn bộ. Đó là giấc mơ của mọi nhà buôn từ cổ chí kim: độc quyền tuyệt đối.

Người Anh cũng đến, muộn hơn và nghèo hơn nhiều. Không đủ sức tranh các đảo lớn, họ tìm được hai hòn đảo ngoài rìa mà người Hà Lan chưa kịp nuốt: Ai và Run.

Run là hòn đảo xa nhất về phía tây của quần đảo Banda. Dài khoảng ba cây số, rộng chưa tới một cây số, thiếu nước ngọt, không có cảng tốt. Nhưng trên đó có nhục đậu khấu, và có những thủ lĩnh làng sẵn sàng bắt tay với người Anh để thoát khỏi người Hà Lan.

 ![Đảo Run trong tranh phong cảnh nhìn ra biển Banda, khoảng năm 1790.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/8/879304bdcf0daf070f73cb129b1305daf323a52d.png)  
_Đảo Run trong tranh phong cảnh nhìn ra biển Banda, khoảng năm 1790._

Năm 1616, thuyền trưởng người Anh **Nathaniel Courthope** cập bến Run với hai chiếc tàu và vài chục người. Các trưởng làng ký với ông một văn kiện: dân Run tự nguyện thần phục vua James I. Đó là một trong những lãnh thổ hải ngoại đầu tiên của nước Anh, sớm hơn nhiều thuộc địa Bắc Mỹ. James I thậm chí thêm vào danh hiệu của mình dòng chữ “Vua của Anh, Scotland, Ireland, Pháp, Puloway và Puloroon”. Một vị vua tự xưng là chủ của hai hòn đảo mà ông không bao giờ nhìn thấy và có lẽ chẳng phát âm nổi tên.

Courthope không biết rằng mình vừa bước vào một cuộc vây hãm kéo dài bốn năm.

* * *

## Bốn năm cố thủ trên một hòn đảo không có nước

Người Hà Lan không thể chấp nhận một lỗ thủng trong thế độc quyền. Họ phong tỏa Run, chặn mọi tiếp tế. Courthope và nhóm người của ông sống nhờ những gì dân đảo chia sẻ, nhờ vài chuyến thuyền lén vượt vòng vây ban đêm, và nhờ một sự lì lợm gần như phi lý. Ông viết thư về London xin viện binh; viện binh không bao giờ tới. Người Hà Lan đề nghị cho ông rút lui trong danh dự, rồi đề nghị mua chuộc; ông đều từ chối. Ông bảo mình đã hứa với dân Run sẽ không bỏ họ.

Tháng 10 năm 1620, trong một lần chèo thuyền nhỏ sang đảo bên cạnh, Courthope bị tàu Hà Lan phục kích. Ông trúng đạn, nhảy xuống biển, và biến mất. Người ta không bao giờ tìm thấy xác ông.

Chỉ vài tháng sau, năm 1621, người Hà Lan làm điều mà lịch sử vẫn nhắc đến với sự rùng mình.

* * *

## Jan Pieterszoon Coen và cái giá bằng máu của độc quyền

**Jan Pieterszoon Coen** , Toàn quyền VOC ở Đông Ấn, có một câu nói nổi tiếng gửi về Amsterdam, đại ý: không thể buôn bán mà không có chiến tranh, cũng không thể chiến tranh mà không có buôn bán.

 ![Tranh chân dung Jan Pieterszoon Coen.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/c/c27da06cf339af65af94ee1edc94a8759a5de0a5.jpeg)  
_Tranh chân dung Jan Pieterszoon Coen._

Năm 1621, ông đưa một hạm đội lớn đến đảo chính Lonthor, viện cớ dân đảo vi phạm hợp đồng bán độc quyền cho VOC. Cuộc chinh phạt biến thành thảm sát. Các thủ lĩnh Banda bị hành hình, phần lớn dân cư bị giết, chết đói khi trốn lên núi, hoặc bị bắt làm nô lệ chở đi Batavia. Các ước tính cho rằng dân số Banda từ khoảng mười lăm nghìn người sụt xuống còn khoảng một nghìn. Một dân tộc gần như bị xóa sổ để một công ty có thể ấn định giá của một loại hạt.

Sau đó, VOC chia đất thành đồn điền, đưa nô lệ từ nơi khác đến trồng, và vận hành Banda như một nhà máy. Hạt về quá nhiều có nguy cơ làm giá giảm? Đốt bớt. Sợ ai đem giống đi trồng nơi khác? Ngâm hạt trong nước vôi trước khi xuất khẩu.

Và Run? Người Hà Lan chiếm Run, rồi làm một việc rất “kinh tế học”: họ **chặt sạch mọi cây nhục đậu khấu trên đảo**. Nếu người Anh có quay lại đòi, họ sẽ nhận được một hòn đảo trơ trọi. Run trở thành một lời tuyên bố chủ quyền hơn là một tài sản sinh lời.

Người Anh vẫn đòi. Suốt mấy chục năm sau đó, trong mọi cuộc thương lượng Anh - Hà Lan, cái tên Run cứ hiện lên như một cái gai. Người Hà Lan trả lời bằng cách trì hoãn, viện cớ, và khi cần, dùng vũ lực. Năm 1623, ở đảo Ambon gần đó, họ tra tấn và xử tử mười thương nhân Anh với cáo buộc âm mưu nổi loạn. “Vụ thảm sát Amboyna” trở thành vết thương trong quan hệ hai nước suốt nửa thế kỷ.

* * *

## Trong khi đó, ở bên kia địa cầu

Cùng năm 1621 khi Coen tắm máu Banda, ở Amsterdam người ta lập ra Công ty Tây Ấn Hà Lan, phụ trách châu Mỹ. Công ty này nghèo hơn, kém uy quyền hơn, và được giao một khu vực mà không ai kỳ vọng nhiều: cửa sông Hudson.

Năm 1626, Peter Minuit “mua” đảo Manhattan từ người bản địa Lenape với số hàng hóa trị giá 60 guilder. Giai thoại sau này biến con số ấy thành “24 đô la”, còn bản thân khái niệm “mua đứt” đất đai vốn xa lạ với người Lenape, những người có lẽ nghĩ mình đang nhận quà để cho phép dùng chung đất. Dù thế nào, người Hà Lan dựng pháo đài ở mũi phía nam đảo và gọi nơi này là **New Amsterdam**.

 ![Bản đồ New Amsterdam năm 1660.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/5/5884ab02012f3fcf844ea0698bcf40e29603a2e1.jpeg)  
_Bản đồ New Amsterdam năm 1660._

New Amsterdam là một nơi bùn lầy, đầy muỗi vào mùa hè và băng giá vào mùa đông. Cư dân buôn lông thú, trồng ít lúa mì, cãi nhau với quản đốc. Dân số lúc cao nhất chỉ khoảng một nghìn rưỡi người. Trong sổ sách của Cộng hòa Hà Lan, Tân Hà Lan là một khoản lỗ có thể chấp nhận được, một tiền đồn giữ chân người Anh hơn là một mỏ vàng.

Nhưng nó có một thứ mà lúc đó không ai định giá được: vị trí. Một cảng nước sâu quanh năm không đóng băng, một con sông lớn dẫn sâu vào nội địa, nằm chen giữa các thuộc địa Anh đang lớn dần. Năm 1664, vua Charles II trao cho em trai mình, Công tước xứ York, toàn bộ vùng đất ấy, bất chấp việc người Hà Lan đang sống ở đó. Bốn chiến hạm Anh xuất hiện trước New Amsterdam. Quản đốc Peter Stuyvesant, người có chân gỗ và tính khí nóng nảy, muốn chiến đấu. Nhưng dân cư không muốn chết vì Công ty Tây Ấn. Stuyvesant ký giấy nộp thành mà không nổ một phát súng.

 ![Tranh chân dung Peter Stuyvesant khoảng năm 1660.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/8/82e178fac6d388101c7985c09e1a7a71c67d155d.jpeg)  
_Tranh chân dung Peter Stuyvesant khoảng năm 1660._

New Amsterdam trở thành **New York** , đặt theo tước hiệu của Công tước. Chuyện này xảy ra trong thời bình, và đó là một trong những giọt nước làm tràn ly dẫn tới Chiến tranh Anh - Hà Lan lần thứ hai.

* * *

## Trận Medway: người Hà Lan đốt hạm đội Anh ngay trên sông Thames

Cuộc chiến 1665 - 1667 là cuộc chiến trên biển giành quyền kiểm soát thương mại toàn cầu. Giữa chừng, dịch hạch tàn phá London, rồi Đại hỏa hoạn 1666 thiêu rụi phần lớn thành phố. Nước Anh kiệt quệ, kho bạc trống rỗng, hạm đội phải neo lại để tiết kiệm tiền.

Tháng 6 năm 1667, Đô đốc Hà Lan Michiel de Ruyter đưa hạm đội tiến thẳng vào cửa sông Thames, ngược lên sông Medway, phá xích chắn, đốt cháy những chiến hạm lớn nhất của Anh đang neo ở Chatham, rồi kéo soái hạm _Royal Charles_ về Hà Lan làm chiến lợi phẩm. Samuel Pepys ghi trong nhật ký nỗi hoảng loạn ở London: người ta tin rằng người Hà Lan sẽ tiến vào tận thủ đô.

Đó là một trong những thất bại nhục nhã nhất lịch sử hải quân Anh. Và nó xảy ra đúng lúc hai bên đang đàm phán hòa bình ở thành phố Breda của Hà Lan.

Bạn có thể hình dung không khí bàn đàm phán sau tin ấy.

* * *

## Breda, ngày 31 tháng 7 năm 1667

**Hiệp ước Breda** được ký vào cuối tháng 7 năm 1667. Nguyên tắc cốt lõi của nó là _uti possidetis_, một thuật ngữ Latinh có nghĩa đại khái là “như các ông đang giữ”: mỗi bên giữ lại những gì mình đang chiếm đóng vào thời điểm ký kết, thay vì trả lại như trước chiến tranh.

 ![Hội nghị Breda trong tranh khắc đương thời, khoảng năm 1667.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/7/7423ecd3de70fa53f0528608cafd350d8bd160e2.jpeg)  
_Hội nghị Breda trong tranh khắc đương thời, khoảng năm 1667._

Điều này có nghĩa là:

- Người Anh giữ Tân Hà Lan, tức là New York, vì họ đã chiếm nó từ năm 1664.
- Người Hà Lan giữ **Run** , vì họ đã chiếm nó từ thập niên 1620, và người Anh chính thức từ bỏ mọi yêu sách.
- Người Hà Lan cũng giữ **Suriname** , thuộc địa trồng mía ở Nam Mỹ mà họ vừa chiếm được từ tay người Anh vài tháng trước đó.
- Nước Pháp, đồng minh của Hà Lan, được Anh trả lại Acadia ở Bắc Mỹ.

Vậy nên nếu bạn muốn chính xác đến từng chữ, Hiệp ước Breda không phải một cuộc “đổi đảo Run lấy Manhattan” theo kiểu hai bên ngồi xuống rồi trao qua trao lại. Không có điều khoản nào ghi “Run đổi lấy New York”. Đó là một thỏa thuận chấm dứt chiến tranh, trong đó mỗi bên giữ nguyên hiện trạng.

Nhưng nếu nhìn vào cái mà hai bên **có thể đòi hỏi** và cái mà họ **chọn buông** , câu chuyện “đổi đảo” lại đúng đến kỳ lạ.

Người Hà Lan lúc ấy đang thắng thế. Hạm đội Anh vừa bị đốt ngay trên đất Anh. Nếu muốn đòi lại Tân Hà Lan, họ hoàn toàn có vị thế để mặc cả. Họ đã không làm vậy. Trong mắt người đương thời, đây là thương vụ mà người Hà Lan thắng: Suriname là đồn điền mía sinh lời, Run là mắt xích cuối cùng khép kín thế độc quyền nhục đậu khấu mà VOC đã đổ máu bao năm để có. Còn New York? Một thuộc địa lông thú lỗ vốn với nghìn rưỡi dân.

Người Hà Lan chọn nhục đậu khấu. Bằng những gì họ biết vào năm 1667, đó là lựa chọn hoàn toàn hợp lý.

Một chi tiết ít người nhắc: năm 1673, trong cuộc chiến Anh - Hà Lan lần thứ ba, người Hà Lan lại chiếm được New York, đổi tên thành New Orange. Rồi tại Hiệp ước Westminster 1674, họ lại **trả nó về cho người Anh**. Lần thứ hai có Manhattan trong tay, lần thứ hai họ buông. Với người Hà Lan thế kỷ 17, mỗi lần bàn cân nghiêng, nó vẫn nghiêng về phía Đông Ấn.

* * *

## Khi độc quyền vỡ tan bởi một túi hạt giống

Hãy tua nhanh một thế kỷ.

Thế độc quyền mà VOC xây bằng máu và lửa sụp đổ không phải vì một hạm đội, mà vì một người Pháp có cái tên rất hợp với nghề: **Pierre Poivre** , nghĩa đen là “Pierre Hạt Tiêu”. Nhà thực vật học kiêm nhà thám hiểm này, từng làm nhiều việc ở Đông Dương, bị ám ảnh với việc phá vỡ độc quyền gia vị của Hà Lan. Năm 1770, các đặc phái viên của ông lén mang được hạt giống và cây nhục đậu khấu ra khỏi Đông Ấn, đem trồng ở đảo Mauritius. Cây bén rễ. Một túi hạt giống làm được điều mà bao cuộc thương lượng ngoại giao không làm nổi.

Rồi năm 1810, giữa các cuộc chiến tranh Napoléon, người Anh chiếm được Banda. Lần này họ không đến để đòi Run. Họ đào những cây nhục đậu khấu con lên, chở đi trồng ở Sri Lanka, Penang, và xa hơn nữa, ở đảo Grenada vùng Caribe. Ngày nay Grenada tự gọi mình là “Đảo Gia Vị”, quốc kỳ in hình một hạt nhục đậu khấu, và là một trong những nước xuất khẩu nhục đậu khấu lớn nhất thế giới.

 ![Đồ họa quốc kỳ Grenada, được sử dụng từ năm 1974.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/9/919d51f83015c382d3208a2859225038e13cfd29.jpeg)  
_Đồ họa quốc kỳ Grenada, được sử dụng từ năm 1974._

Khi nhục đậu khấu mọc ở khắp nơi, giá của nó rơi tự do. Từ vị trí ngang vàng, nó tụt xuống thành một lọ gia vị vài chục nghìn đồng trong siêu thị, nằm cạnh muối tiêu trong bếp nhà bạn, để rắc lên cốc eggnog Giáng sinh hay nêm vào món súp kem cho thơm. VOC phá sản năm 1799, sụp đổ vì tham nhũng, nợ nần, chiến tranh, và vì cái nền tảng của nó, tức là độc quyền, đã không còn.

* * *

## Còn Run và Manhattan bây giờ?

Manhattan ngày nay có giá trị bất động sản ước tính hàng nghìn tỷ đô la, là nơi đặt trụ sở Liên Hợp Quốc, Phố Wall và một nền kinh tế lớn hơn nhiều quốc gia. Wall Street mang tên bức tường người Hà Lan dựng năm 1653 để phòng thủ phía bắc thành phố. Brooklyn, Harlem, Coney Island đều là tên Hà Lan bị Anh hóa. Người Hà Lan để lại tên gọi, nhưng không để lại chủ quyền.

 ![Ảnh chụp Phố Wall.](https://diembao.net/uploads/default/original/2X/4/4bda1f73dd69efa58dc1d43e63f64b1bba20cea9.jpeg)  
_Ảnh chụp Phố Wall._

Run ngày nay là một hòn đảo khoảng 1.500 dân thuộc tỉnh Maluku, Indonesia. Không sân bay, không khách sạn lớn, phải đi thuyền nhiều giờ từ Banda Neira. Trên đảo vẫn còn cây nhục đậu khấu, được trồng lại sau khi người Hà Lan chặt hết, và dân đảo vẫn phơi hạt trên những tấm chiếu trước hiên nhà. Nếu bạn đến đó, họ sẽ kể cho bạn, với chút hài hước, rằng đây là hòn đảo “từng được đổi lấy New York”. Câu chuyện ấy, dù không chính xác từng chữ, đã trở thành một phần bản sắc của họ. Cách đó không xa, trên đảo Lonthor, có một khu tưởng niệm những thủ lĩnh Banda bị hành hình năm 1621.

* * *

## Bài học từ một hạt nhục đậu khấu

Người ta hay kể chuyện Run - Manhattan như một trò đùa lịch sử: “người Hà Lan ngốc quá”. Nhưng câu chuyện thực sự sâu hơn thế.

Thứ nhất, **giá trị không nằm trong vật, mà nằm trong khan hiếm và niềm tin.** Nhục đậu khấu chưa bao giờ ngừng là nhục đậu khấu. Thứ thay đổi là số nơi nó mọc và số người tin rằng nó chữa được dịch hạch. Bao nhiêu thứ chúng ta đang trả giá cao hôm nay chỉ vì chúng khan hiếm một cách nhân tạo, hoặc vì ta tin vào một câu chuyện ai đó kể?

Thứ hai, **không ai nhìn thấy tương lai từ vị trí hiện tại.** Năm 1667, chọn Run thay vì Manhattan là quyết định của những người thông minh nhất, giàu có nhất, có thông tin tốt nhất châu Âu. Họ không sai vì ngốc. Họ sai vì tương lai luôn được viết bằng thứ mực mà hiện tại không đọc được.

Thứ ba, **độc quyền tuyệt đối luôn mong manh hơn vẻ ngoài của nó.** VOC xây pháo đài thương mại bằng hải quân, bằng thảm sát, bằng nước vôi ngâm hạt giống. Rồi nó bị phá bởi một túi hạt lén mang qua biển.

Và cuối cùng: **phía sau mỗi “thương vụ lịch sử” vĩ đại đều có những con người không được hỏi ý kiến.** Người Lenape không được hỏi khi hòn đảo của họ đổi chủ. Người Banda không được hỏi khi vườn nhục đậu khấu của họ trở thành lý do để một công ty xóa sổ họ. Những cái tên ghi trên hiệp ước là Anh và Hà Lan; những cái tên bị xóa khỏi lịch sử là của họ.

Lần tới, khi bạn mài một chút nhục đậu khấu vào nồi nước dùng, hay ngửi mùi ấm nồng của nó trong một chiếc bánh, hãy nhớ rằng bạn đang cầm trên tay thứ từng được cân ngang với một thành phố. Và rằng thành phố ấy, hóa ra, lại là New York.

* * *

_Bài viết dựa trên các nguồn sử liệu về Công ty Đông Ấn Hà Lan, quần đảo Banda và lịch sử New York thời thuộc địa. Một số con số về giá gia vị và dân số Banda là ước tính của các nhà sử học và có sai lệch giữa các nguồn._

**Nguồn ảnh:**

- Ảnh chụp quả nhục đậu khấu mở, để lộ lớp áo hạt đỏ.: Schlawensko, [CC BY-SA 4.0](https://creativecommons.org/licenses/by-sa/4.0), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Nutmeg_fruit_with_mace.jpg), đã thu nhỏ
- Ảnh chụp đảo Banda Besar nhìn từ pháo đài Belgica.: Photo by Mark Richards, [CC BY-SA 3.0](http://creativecommons.org/licenses/by-sa/3.0/), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:BandaBesarIslandSeenFromFortBelgica.JPG), đã thu nhỏ
- Đảo Run trong tranh phong cảnh nhìn ra biển Banda, khoảng năm 1790.: Unknown authorUnknown author, phạm vi công cộng (Public domain), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Pulau_Run_c._1790.png)
- Tranh chân dung Jan Pieterszoon Coen.: Jacques Waben, phạm vi công cộng (Public domain), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Jan_Pietersz_Coen_by_Jacob_Waben.jpg)
- Bản đồ New Amsterdam năm 1660.: Johannes Vingboons (cartographer), Jacques Cortelyou (surveyor), phạm vi công cộng (Public domain), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Stad_Amsterdam_in_Nieuw_Nederland_%28City_Amsterdam_in_New_Netherland%29_Castello_Plan_1660.jpg)
- Tranh chân dung Peter Stuyvesant khoảng năm 1660.: unknown painter (attributed to Hendrick Couturier, in the past was considered a , phạm vi công cộng (Public domain), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Petrus_%28Peter_Pieter%29_Stuyvesant_portrait_c1660.jpg)
- Hội nghị Breda trong tranh khắc đương thời, khoảng năm 1667.: Romeyn de Hooghe, phạm vi công cộng (Public domain), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Congress_of_Breda.jpg)
- Đồ họa quốc kỳ Grenada, được sử dụng từ năm 1974.: See file history below for details., phạm vi công cộng (Public domain), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Flag_of_Grenada.svg)
- Ảnh chụp Phố Wall.: tác giả không rõ, [CC BY-SA 3.0](http://creativecommons.org/licenses/by-sa/3.0/), [Wikipedia](https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Photos_NewYork1_032.jpg), đã thu nhỏ
